Thang Bloom tu chính (Bloom’s Revised Taxonomy – thang đã được điều chỉnh mới) cũng tương tự như của Bloom, chỉ thay đổi hai tầng cuối cùng là đánh giá (tầng 5) và sáng tạo (tầng 6). Một đóng góp nữa trong Bảng Tu chính là sử dụng các động từ thay cho các danh từ như trong bảng chính (nhận thức là hoạt động chứ không phải là kết quả).
1. Nhớ (Remembering)
2. Hiểu (Understanding)
3. Vận dụng (Applying)
4. Phân tích (Analyzing)
5. Đánh giá (Evaluating)
6. Sáng tạo (Creating).
Các cấp độ tư duy này được định nghĩa như sau:
Nhớ
Bao gồm việc người học có thể nhớ lại các điều đặc biệt hoặc tổng quát, trọn vẹn hoặc một phần các quá trình, các dạng thức, cấu trúc… đã được học. Ở cấp độ này người học cần nhớ lại đúng điều được hỏi đến, ví dụ lặp lại đúng một định luật mà chưa cần phải giải thích hay sử dụng định luật ấy.
Các từ khóa thường sử dụng khi đánh giá cấp độ nhận thức này là: Trình bày, Nhắc lại, Mô tả, Liệt kê…
Hiểu
Ở cấp độ nhận thức này người học cần nắm được ý nghĩa của thông tin, thể hiện qua khả năng diễn giải, suy diễn, liên hệ.
Ví dụ: Giải thích một định luật, phân biệt cách sử dụng các thiết bị, viết tóm tắt một chương mục, trình bày một quan điểm.
Từ khóa đánh giá: Giải thích, Phân biệt, Khái quát hóa, Cho ví dụ, So sánh…
Vận dụng
Người học có khả năng áp dụng thông tin đã biết vào một tình huống, một điều kiện mới.
Ví dụ: Vận dụng một định luật để giải thích một hiện tượng; áp dụng các công thức, các định lí để giải một bài toán; thực hiện một thí nghiệm dựa trên một quy trình.
Từ khóa đánh giá: Vận dụng, Áp dụng, Tính toán, Chứng minh, Giải thích, Xây dựng…
Phân tích
Người học có khả năng chia các nội dung, các thông tin thành những phần nhỏ để có thể chỉ ra các yếu tố, các mối liên hệ, các nguyên tắc cấu trúc của chúng.
Ví dụ: Lý giải nguyên nhân thất bại của một doanh nghiệp, hệ thống hóa các văn bản pháp qui, xây dựng biểu đồ phát triển của một doanh nghiệp.
Từ khóa: Phân tích, Lý giải, So sánh, Lập biểu đồ, Phân biệt, Hệ thống hóa…
Đánh giá
Người học có khả năng đưa ra nhận định, phán quyết của bản thân đối với một vấn đề dựa trên các chuẩn mực, các tiêu chí đã có.
Ví dụ: Phản biện một nghiên cứu, một bài báo; đánh giá khả năng thành công của một giải pháp; chỉ ra các điểm yếu của một lập luận.
Từ khóa: Đánh giá, Cho ý kiến, Bình luận, Tổng hợp, So sánh…
Sáng tạo
Đạt được cấp độ nhận thức cao nhất này người học có khả năng tạo ra cái mới, xác lập thông tin, sự vật mới trên cơ sở những thông tin, sự vật đã có.
Ví dụ: Thiết kế một mẫu nhà mới, xây dựng một hệ tiên đề mới; xây dựng hệ thống các tiêu chí để đánh giá một hoạt động; đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế; xây dựng cơ sở lý luận cho một quan điểm; lập kế hoạch tổ chức một sự kiện mới.
Từ khóa: Thiết lập, Tổng hợp, Xây dựng, Thiết kế, Đề xuất….
—
Theo một cách tương đối, 6 cấp độ nhận thức tương ứng với các mục tiêu về Kiến thức, Kỹ năng và Thái độ của người học.
Mức nhớ và hiểu: Mục tiêu về Kiến thức.
Mức vận dụng và phân tích: Mục tiêu về Kỹ năng.
Mức đánh giá và sáng tạo: Mục tiêu về Thái độ, có nhận thức mới và thái độ mới.
Ví dụ: Xác định mục tiêu và các cấp độ nhận thức cho một bài học: Bài Lực ma sát.
Mục tiêu:
Kiến thức
– Trình bày được những đặc điểm của lực ma sát (trượt, nghỉ, lăn).
– Liệt kê được một số cách làm giảm hoặc tăng ma sát.
Kỹ năng
– Vận dụng được công thức của lực ma sát trượt để giải các bài toán cơ bản.
– Giải thích được vai trò phát động của lực ma sát nghỉ đối với việc đi lại của người, động vật và xe cộ.
Thái độ
– Nhận thức được 2 mặt của 1 vấn đề “Lực ma sát vừa có ích vừa có hại”.
– Đề xuất một số giải pháp làm giảm lực ma sát hoặc làm tăng lực ma sát trong thực tế.
Các cấp độ nhận thức (dùng trong đánh giá):
Nhớ. Cho biết công thức dùng để xác định lực ma sát.
Hiểu.
– Giải thích ý nghĩa của các đại lượng trong công thức dùng để xác định lực ma sát.
– Mô tả thí nghiệm để chứng minh độ lớn của lực ma sát trượt:
+ Không phụ thuộc vào diện tích tiếp xúc và tốc độ của vật.
+ Tỉ lệ với độ lớn của áp lực.
+ Phụ thuộc vào vật liệu và tình trạng của hai mặt tiếp xúc.
Vận dụng. Tính hệ số ma sát giữa vật và một mặt phẳng nghiêng khi cho trước các yếu tố…
Phân tích. Phân tích độ lớn, chiều của lực ma sát giữa bàn chân và mặt đường trong quá trình đi bộ . (Mô tả, biểu thị ra)
Đánh giá. Từ các hoạt động trong đời sống, hãy cho biết ở những hoạt động nào lực ma sát có lợi, ở những hoạt động nào lực ma sát có hại. (Ý kiến về các sự vật, hiện tượng xung quanh)
Sáng tạo. Nghiên cứu xác định vận tốc quay tối ưu của động cơ nhằm làm giảm tối đa lực ma sát giữa trục và ổ trục.
—
Việc tiếp cận các mức trí năng sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới phong cách học tập. Phong cách học hời hợt (surface learning): Mức biết và hiểu – khó thành công trong phát triển năng lực bản thân. Phong cách học sâu (deep-learning): Các mức cao hơn.
Phong trào chú trọng vào giảng dạy và nâng cao chất lượng “tư duy phê phán” (critical thinking – gần gần Creating). Tuy nhiên, khái niệm “tư duy phê phán” và những nghiên cứu cùng phương thức rèn luyện do trường phái này đưa ra, thực ra cũng chỉ nằm ở tầng thứ 5 và thứ 6.
Thầy cô hướng dẫn đến bậc nào, thì học sinh học đến bậc đó. Nhiệm vụ của thầy cô vừa phải truyền thụ kiến thức (tầng thứ nhất) cho học sinh vừa phải giúp học sinh phát triển trình độ nhận thức của mình lên từng bậc cao hơn, và cuối cùng phát triển được khả năng suy nghĩ độc lập của mỗi học sinh. Đó cũng là mục đích tối hậu của giáo dục.
Bloom chỉ là 1 thang đo, còn 2 mô hình cũng được đánh giá cao nữa: Một là của Dreyfus về thước đo cảm tính của sự tiến bộ, hai là của David Kolb về các thao tác cho sự tiến bộ.

Nhận xét
Đăng nhận xét